Green Orange Blue
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin tức

Nuôi cá Chim vây vàng lồng bè trên sông
Người đăng: Nguyễn Thị Đồng .Ngày đăng: 17/06/2021 09:13 .Lượt xem: 424 lượt.
Để chuyển giao đối tượng mới, có giá trị kinh tế cao vào nuôi lồng bè ở vùng cửa sông mặn lợ, Trung tâm Khuyến nông Quảng Nam đã xây dựng mô hình và hướng dẫn kỹ thuật nuôi cá Chim vây vàng lồng bè trên sông. Xin giới thiệu đến với bà con nông dân áp dụng vào nuôi, giúp đem lại hiệu quả.

I. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC

1. Hình thái

Cá chim vây vàng (Trachinotus blochii) có màu ánh bạc, thân dẹp, đầu tròn, mõm tù. Chiều dài hàm trên đạt đến một điểm nằm dưới mắt. Răng hàm mịn. Toàn thân (trừ đầu) phủ vảy nhỏ.

Cá chim trắng vây vàng nuôi bán trên thị trường thường có màu vàng (kim loại). Cá chim trắng vây vàng sống tự nhiên nơi biển có lưng màu lam-đen, hai bên thân màu bạc: hai vùng màu được phân cách bằng một đuờng mờ màu cam-hồng; thùy lưng và vùng đáy của các vây màu hơi xám, phần còn lại của vây màu vàng, vây hậu môn cũng màu vàng, thùy màu cam/đỏ.

Kích thước: tối đa 110cm, trung bình 40cm. Trọng lượng lớn nhất được công bố là 3.4 kg.

Cá chim vây vàng
     2. Phân bố

Cá chim trắng vây vàng là loài cá nổi, ưa hoạt động, sống chủ yếu ở tầng giữa và tầng mặt, phân bố tự nhiên ở các rạn san hô dưới độ sâu 7m ở vùng biển Ấn Độ Dương, từ bờ Biển Đỏ, Nam Phi đến miền Nam Australia, vùng biển nhiệt đới và Á nhiệt đới. 

Phân bố nhiều ở các nước thuộc khu vực Đông Nam Á như: Nhật Bản, Đài Loan, Indonesia, miền nam Trung Quốc. Ở Việt Nam chúng tập trung nhiều ở vịnh Bắc bộ, Trung và Nam bộ.

3. Tập tính

Cá chim trắng vây vàng khi chưa trưởng thành thường sinh sống tại những vùng ven biển cạn, đáy cát và nơi cửa sông đáy bùn. Khi trưởng thành cá di chuyển thành từng nhóm ra vùng biển sâu hơn, đáy có những rạn san hô và đá ngầm nơi độ sâu tối đa khoảng 7m. Cá nhỏ sống thành từng bầy nhưng cá trưởng thành thường sinh hoạt đơn độc. Thực phẩm chính của cá chim trắng vây vàng là nhuyễn thể và những thủy sinh vật nhỏ. 

4. Sinh trưởng

          Cá chim vây vàng có kích thước tương đối lớn, chiều dài có thể đạt 45- 60cm. Cá sinh trưởng nhanh, trong điều kiện nuôi bình thường một năm có thể đạt quy cách cá thương phẩm cỡ 0,5- 0,7 kg. Từ năm thứ hai trở đi mỗi năm trọng lượng tuyệt đối tăng là 1 kg. Cá nuôi lồng bè có tốc độ tăng trưởng nhanh (sau 10- 12 tháng sẽ đạt cỡ thương phẩm 800 – 1.000g).

5. Sinh sản

Mùa sinh sản của cá chim vây vàng từ tháng 4- 5 và duy trì cho đến tháng 8. Sức sinh sản của cá thể 40- 60 vạn trứng. Trong thiên nhiên cá hương 1,2- 2  cm bắt đầu bơi vào vùng biển cạn, cá lớn 13- 15cm bắt đầu di cư từ vùng biển cạn ra vùng biển sâu.

Hiện nay, ngoài tự nhiên cá thành thục ở 7- 8 tuổi nếu muốn cho cá thành thục sớm cần phải tiêm kích dục tố, nuôi vỗ cá bố mẹ một cách khoa học. Trong thực tiễn sản xuất chứng minh cá chim vây vàng 4 tuổi tuyến sinh dục đạt độ thành thục, qua đó kích thích cá có thể phóng trứng thụ tinh và ấp nở thành cá bột bình thường.

II. KỸ THUẬT NUÔI

1. Chọn vị trí đặt lồng nuôi

Nằm trong vùng quy hoạch, ít chịu ảnh hưởng dòng nước lưu thông, sóng gió, tốc độ dòng chảy vừa phải (0,2 - 0,6 m/s), chất đáy cát bùn, độ sâu 5 - 10 m. Khi nước thủy triều xuống thấp nhất đáy của lồng phải cách đáy của vùng nuôi 1,0 m.

Hàm lượng ôxy hòa tan từ 4 - 6  mg/l, nhiệt độ 25 - 300C, độ mặn 20 - 33‰, tránh xa những nơi có ô nhiễm dầu, chất thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt.

 

2. Thiết kế và xây dựng lồng

Lồng có dạng hình vuông, kích thước lồng: 4 x 4 x 3m hoặc 6 x 6 x 3m, các lồng nuôi được buộc cố định trong bè.

Lưới lồng nuôi làm bằng sợi PE không rút, có thể sử dụng loại lưới đen của Nhật hoặc Trung Quốc sản xuất, kích thước mắt lưới phù hợp với từng giai đoạn phát triển của cá. Phía trên các lồng nuôi cần được che lưới nhằm không cho cá nhảy ra ngoài và hạn chế cường độ ánh sáng.

Bè làm bằng khung gỗ, có size 6x12 cm, phao nổi làm bằng phuy nhựa (loại 200 lít) để nâng khung gỗ của lồng, số lượng 6 - 8 phuy/ô lồng. Diện tích bè tùy theo số lượng lồng.

Thường mỗi bè có kích thước 10x15 m chia làm 2 dãy, mỗi dãy 3 ô lồng. Trên bè nuôi thường có nhà quản lý, giữa các ô lồng có lối đi lại. Bè được cố định bằng neo ở 4 góc.


 

          3. Chọn giống và thả cá

Chọn giống: Chọn cá giống ở những cơ sở có uy tín, kích thước đồng đều, chiều dài thân từ 6 cm trở lên hoặc 8 - 10 cm, trọng lượng từ 20 - 25 g/con, không có dấu hiệu bệnh lý, hoạt động bình thường, bơi lội nhanh nhẹn.

 Thả cá: Trước khi thả cá kiểm tra bệnh VNN (Viral nervous necrosis) một loại bệnh hoại tử thần kinh và thuần hóa độ mặn cho phù hợp với vùng đặt lồng nuôi. Thả bao cá xuống nước để cân bằng nhiệt độ, tránh hiện tượng sốc nhiệt, từ từ cho nước biển vào bao để cá thích nghi dần với môi trường mới. Tắm cá bằng nước ngọt hoặc formol nồng độ 20 ppm trong 10 - 15 phút, trong quá trình tắm phải cung cấp sục khí. Mùa vụ thả vào tháng 3 - 4 hàng năm. Nên thả cá vào sáng sớm hoặc chiều mát.
   
Trong thời gian đầu thả nuôi với mật độ từ 40 - 50 con/m
3, sau 1 - 2 tháng nuôi cá đạt trọng lượng 100 - 150 g, lúc này giảm mật độ xuống còn 20 - 25 con/ m3. Trong quá trình nuôi tùy theo mức độ phân đàn của cá để phân cỡ cá, kết hợp san thưa mật độ cho đến khi thu hoạch còn 10 - 15 con/m3.

          4. Cho ăn

Thức ăn công nghiệp dạng viên có hàm lượng đạm 40- 45%, kích thước viên phù hợp với giai đoạn phát triển cá.

Cá có trọng lượng <100 g/con, kích thước viên thức ăn phù hợp 1 - 2 mm, khẩu phần ăn 3 - 4% trọng lượng thân. Cá có trọng lượng 100 - 250 g/con, kích thước viên thức ăn 3 - 4 mm, khẩu phần ăn là 2 - 3% trọng lượng thân. Cá có trọng lượng >250 g, kích thước viên thức ăn là 5 mm, khẩu phần ăn là 1,5 - 2%. Cho cá ăn ngày 2 lần, buổi sáng 8 giờ và buổi chiều 5 giờ.

Thường xuyên theo dõi thời tiết, hoạt động bắt mồi của cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp. Để tăng sức đề kháng và hạn chế bệnh đường ruột cần bổ sung một số loại chế phẩm sinh học bằng cách trộn vào thức ăn theo hướng dẫn của nhà sản xuất, cho ăn theo định kỳ 3 ngày/tuần, mỗi ngày cho cá ăn hai lần.

5. Phòng, trị bệnh

Trong quá trình nuôi cá thường hay bị bệnh ký sinh trùng bám ngoài da, đặc biệt là rận cá, điều này dễ làm cá bị tổn thương bề mặt cơ thể, tạo điều kiện cho các tác nhân cơ hội như vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng gây bệnh.

Bằng mắt thường có thể nhận biết bệnh do vi khuẩn đường ruột với các biểu hiện như bụng cá trương lên và có xuất huyết ở hậu môn, mắt lồi cá chết rải rác. Lúc này cần ngừng cho cá ăn, trộn thuốc vào thức ăn theo hướng dẫn nhà sản xuất cho cá ăn để trị bệnh.

Phòng bệnh tổng hợp: Dụng cụ phải được sát khuẩn trước và sau khi dùng, kiểm tra bệnh VNN, tắm nước ngọt trước khi thả cá. Cho cá ăn đầy đủ về lượng và chất, định kỳ trộn Vitamin C vào thức ăn để tăng sức đề kháng với lượng 2 g/kg thức ăn. Thức ăn không được ẩm mốc.   

          6. Chăm sóc, quản lý và thu hoạch

Thường xuyên kiểm tra chất lượng nước, hàng tháng kiểm tra tốc độ tăng trưởng và bệnh của cá để có biện pháp xử lý kịp thời. Có sổ nhật ký theo dõi tốc độ tăng trưởng, phương pháp cho ăn, quản lý dịch bệnh, yếu tố môi trường…

Thường xuyên kiểm tra lưới lồng, bè và neo để phát hiện hư hỏng, kịp thời sửa chữa, đặc biệt là trước, sau đợt gió bão.

Định kỳ 1 - 2 tháng phân cỡ để giảm sự cạnh tranh thức ăn giữa cá lớn và cá bé ảnh hưởng đến sinh trưởng và nâng cao tỷ lệ sống. Kết hợp phân cỡ với thay lưới lồng nhằm tăng khả năng lưu thông của nước giảm bệnh tật cho cá. Lưới lồng thường bị hàu, vẹm, rong… bám cản trở dòng chảy, gây thiếu ôxy cho cá, làm nặng lồng; do vậy, phải định kỳ vệ sinh loại bỏ sinh vật bám bắng cách xịt rửa lưới bằng vòi cao áp. Tùy theo mức độ bám của sinh vật bám vào lồng và cỡ của cá để có kế hoạch thay lưới lồng, khi thay tránh gây xây xát và sốc cho cá.

 Sau thời gian nuôi 6 – 7 tháng cá đạt cỡ thương phẩm 0,4 – 0,6 kg, nuôi 10 – 12 tháng cá đạt cỡ thương phẩm 0,7 – 1,2kg tiến hành thu hoạch. Thông thường tỷ lệ sống giai đoạn nuôi thương phẩm đạt từ 60 – 80%. Trước khi thu hoạch 2 ngày ngừng không cho cá ăn.

Nhờ có tốc độ tăng trưởng nhanh, khả năng chống chịu dịch bệnh tốt, dễ nuôi và có thể nuôi ở nhiều hình thức nên hiện nay cá chim trắng vây vàng đang được nuôi và tiêu thụ tại nhiều nơi trên thế giới và ở Việt Nam. Cá chim biển vây vàng là loài cá đặc sản có giá trị kinh tế cao, thịt thơm ngon, giàu chất dinh dưỡng, giàu đạm và Omega 3 rất có lợi cho sức khỏe.

Nguồn tin: Trung tâm Khuyến nông Quảng Nam
[Trở về]
Các tin mới hơn:
Kỹ thuật nuôi cá Rô phi thâm canh ứng dụng công nghệ BIOFLOC
Hướng dẫn kỹ thuật nuôi cá lăng nha lồng bè trên sông và hồ chứa
Các tin cũ hơn:
Phê duyệt Đề án Nâng cao giá trị gia tăng hàng nông lâm thủy sản
Qũy hỗ trợ ngư dân Quảng Nam: Cùng ngư dân vươn khơi, bám biển
Áp dụng VietGAP vào nuôi tôm thẻ chân trắng
Triển vọng ương nuôi cua bột lên cua giống
Kỹ thuật nuôi cá chẽm
Kỹ thuật nuôi Lươn thương phẩm
Kỹ thuật nuôi cá Thát lát cườm
Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở nuôi cá tra trong ao
Kỹ thuật nuôi cá chình
Thông báo Nuôi tôm nước lợ 2015
    
1   2   3   4   5   6   7  
    

Liên kết Web

Chuyên đề khuyến nông


    Lượt truy cập

    Tổng số lượt truy cập

    00002922572

    Lượt trong ngày
    1761